tìm hiểu và cảm nhận 6 câu thơ cuối bài cảnh ngày xuân

Cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân sẽ thấy bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo và đặc sắc của tác phẩm. Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du không chỉ được biết đến như một tuyệt tác bởi những giá trị xã hội sâu sắc, mà còn làm say đắm lòng người bởi giá trị nhân đạo lan tỏa cũng như những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. “Cảnh ngày xuân” không chỉ chứa bức tranh thiên nhiên trong sáng mà còn cảm nhận được vẻ đẹp đầy ý nghĩa trong lễ hội truyền thống của dân tộc. Bên cạnh đó, một bức tranh tả cảnh ngụ tình được thể hiện qua ngòi bút tài hoa của đại thi hào. Trong nội dung bài viết dưới đây, hãy cùng với DINHNGHIA.VN cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh Ngày Xuân.

Gợi ý mở đề cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân

Mùa xuân luôn gợi cho ta cảm giác về sự tươi mới về những gì rực rỡ tràn đầy thanh sắc nhất. Vì đó là mùa của vạn vật sinh sôi phát triển nên xuất hiện trong văn học thường là những khung cảnh thiên nhiên tươi vui. Nhưng trong  sáu câu cuối của đoạn trích Cảnh ngày xuân thì bức tranh thiên nhiên mùa xuân ấy lại không vui tươi sinh động như thường thấy mà ngược lại lại khoác lên mình một sự ảm đạm, chất chứa biết bao ưu tư.

“Tà tà bóng ngả về Tây

Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

Tìm hiểu và cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân

Sơ nét về đoạn trích Cảnh ngày xuân trong truyện Kiều

Truyện Kiều là một kiệt tác của Nguyễn Du được sáng tác bằng chữ Nôm. Truyện Kiều được viết theo bố cục Gặp gỡ đính ước – Gia biến – Hội ngộ. Đoạn trích Cảnh ngày xuân thuộc phần một gặp gỡ và đính ước. Đoạn trích diễn ra sau khi miêu tả và chị em Thúy Kiều và trước khi gặp mộ Đạm Tiên rồi kết duyên cùng Kim Trọng. 

Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân, ta thấy thi hào Nguyễn Du đã miêu tả lại vẻ đẹp của thiên nhiên kết hợp cùng cảnh sinh hoạt khi chị em Kiều du xuân trong tiết thanh minh. Nếu ở những dòng thơ đầu của Cảnh ngày xuân là một thiên nhiên tươi đẹp, thanh thoát nhưng không kém phần tươi vui nhộn nhịp bởi khung cảnh “nô nức yến anh”, thì ở những câu thơ cuối của đoạn trích này mùa xuân lại hiện ra với những nét phác họa đượm màu u buồn. Giọng điệu cũng vì vậy mà trầm lắng hơn….

tìm hiểu và cảm nhận 6 câu thơ cuối bài cảnh ngày xuân
Cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân của thi hào Nguyễn Du

Bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong thời điểm cuối ngày

Lựa chọn tả mùa xuân trong những cuối là một lựa chọn độc đáo của Nguyễn Du. Bởi lẽ khi đó thiên nhiên đã bung nở hết tất cả những gì tinh túy nhất, tươi đẹp nhất. Tươi đẹp là thế nhưng đó cũng là những giây phút cuối để chuẩn bị cho giây phút giao mùa sắp đến. Khung cảnh chiều tà cũng là sự nối tiếp gợi ra cảnh ngày tàn

“Tà tà bóng ngả về Tây”

Từ láy “tà tà” gợi ra cảm giác thời gian đang trôi qua một cách chậm chạp. Những tia nắng không còn tung tăng tươi vui nữa mà đã bắt đầu mệt mỏi, chậm rãi đi về cuối phương trời. Ánh nắng không rực rỡ mà dịu nhẹ. Không chỉ là ánh nắng mà còn là những đám mây lơ lửng kia cũng đang dần trôi về phía chân trời. Ta thoáng cảm nhận được một sự chùng chình như nuối tiếc như không nỡ, cả không gian như đang muốn níu kéo thời gian để giữ gìn lại những khung cảnh huy hoàng tươi đẹp còn sót lại của mùa xuân sắp tàn. 

“Bóng ngả về Tây” gợi hình ảnh mặt trời cũng bắt đầu lặng dần, chìm khuất dần. Sức sống buổi ban ngày đã biến mất dần đẻ chuẩn bị nhường chỗ cho bóng tối đang đến dần. Chiều tà thường gọi cho con người những nỗi buồn nhân thế, buồn cho kiếp người. Thiên nhiên rộng lớn bao la là thế còn không tránh khỏi quy luật thịnh suy thì huống chi là kiếp người nhỏ bé không thể tránh khỏi quy luật vòng tuần hoàn của sinh lão bệnh tử. Trong không gian ngày tàn ấy con người hiện ra bé nhỏ hơn bao giờ hết. Đó cũng là lúc con người dễ mủi lòng, dễ bỏ đi hết những lớp mặt nạ mà phơi bày nỗi niềm của mình.

“Chị em thơ thẩn dan tay ra về”

Chị em Kiều đi du xuân cũng đã chứng khiến qua khung cảnh rộn ràng nhộn nhịp buổi ban sáng nhưng khi chiều tàn người ra về hết không khí nhộn nhịp cũng mất đi để lại một sự trống trải. Điều đó đã được thể hiện cô đọng qua từ láy thơ thẩn”. Dường như chị em Kiều đang buông từng bước, từng bước chân một cách chậm rãi. Họ cũng cảm nhận được thời gian ngày tàn sắp đến, len lỏi vào tâm trạng chị em nhiều cảm xúc khó tả. Còn đâu khung cảnh nhộn nhịp tươi vui

“Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”

Mà trong cái “dan tay ra về” ấy lại chứa đựng biết bao tâm trạng, cảm xúc khó nói thành lời. Cuộc vui vừa diễn ra thoắt cái ngày buồn đã đến. Và con người dường như không thể làm gì để níu kéo, để ngăn cản bước đi của thời gian.

Những tia nắng vàng của ngày chiều không chỉ gợi bước đi của thời gian mà còn tác động lên cảnh vật khiến cho cảnh vật khoác lên mình một chiếc áo vàng nhạt ấm áp nhưng cũng man mác nỗi buồn.

 “Bước dần theo ngọn tiểu khê

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

“Bước dần” gợi trạng thái di chuyển chậm rãi từ tốn. Bước chân ở đây không có đối tượng cụ thể gợi ra nhiều suy nghĩ. Đó có thể là bước chân thơ thẩn ra về của chị em Kiều. Đó cũng có thể là bước đi chậm rãi của thời gian. Tất cả như hòa vào nỗi buồn của buổi chiều. Ngọn tiểu khê chính là dòng suối nhỏ. Nếu ở những câu thơ trên là khung cảnh thiên nhiên thanh tao nhưng vẫn mang đầy sức sống qua các hình ảnh.

“Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Thì đến những dòng thơ này không xuất hiện cụ thể cỏ non, cành lê mà lại xuất hiện những sự vật như ngọn tiểu khê. Dòng nước nhỏ chảy róc rách yên ả không khuấy động không gian cũng không hùng vĩ. Dường như để hòa vào nỗi buồn tất cả sự vật cũng thu mình lại trong cái thời khắc ấy. 

“Lần xem phong cảnh” đã gợi tả cụ thể điểm nhìn thiên nhiên. Hóa ra đó chính là điểm nhìn của Kiều. Trong đôi mắt người phụ nữ “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” đáng lẽ phải tươi vui bình an nhưng trong đôi mắt của Kiều lại nhuốm màu tâm trạng buồn thương này. 

Phong cảnh ấy không rực rỡ tráng lệ nguy nga mà chỉ là “có bề thanh thanh”. Mọi thứ diễn ra nhẹ nhàng yên ả nhưng vẫn chất chứa một nỗi niềm, một nỗi buồn nhẹ nhàng thanh tao. Nguyên nhân nào khiến cho nỗi buồn ấy bủa vây tâm hồn nàng thiếu nữ mong manh này. Nguyên nhân ấy cũng không được nói rõ. Có lẽ vì ngày tàn chăng? Cũng có thể vì cảm nhận được tương lai trắc trở của mình chăng? Sự thanh tao của cảnh vật càng khiến lòng người thêm u hoài. 

Từ láy “nao nao” đã gợi tả thành công trạng thái ấy. nao nao là sự chuyển động nhỏ nhưng đều đặn lặp lại không có kết thúc. Đó vừa là trạng thái chuyển động của “dòng nước uốn quanh” vừa còn là trạng thái tâm trạng của nhân vật. Sự xao động của mặt nước càng khiến cho không gian thêm tĩnh lặng. Lòng người cũng xao động gợn sóng vì một nỗi niềm riêng không tên. 

Hình ảnh cảnh vật được Nguyễn Du khắc họa toàn bộ là những sự vật nhỏ bé từ ngọn tiểu khê đến dòng nước uốn quanh và cuối cùng là nhịp cầu nho nhỏ. Từ láy tượng hình “nho nhỏ” đã diễn tả cảnh vật nhỏ bé. Từ cái nhìn hướng lên trên để thấy “cánh én đưa thoi”, “cỏ non xanh tận chân trời”, thấy “cành lê trắng điểm một vài bông hoa” thì đến khi miêu tả cảnh vật chiều tàn thì cái nhìn hướng xuống đất, hướng về những gì bé nhỏ bình dị. 

Vạn vật như thu nhỏ vào tầm mắt, như nép mình lại trước nỗi niềm của con người. Và đặc biệt chính cái nhỏ bé của sự vật đã tạo nên một bức phông nền để làm nổi bật bước đi chậm rãi của thời gian. Dù tả cảnh vật nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được bước chân và nỗi lòng của con người. Như Nguyễn Du từng viết

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

So sánh vẻ đẹp và từng đường nét với bức tranh xuân ban ngày

Điểm chung giữa hai bức tranh xuân được miêu tả trong đoạn trích Cảnh ngày xuân đều được vẽ bằng những đường nét phác họa đầy ước lệ. Nhưng có thể thấy rõ nhất sự khác biệt về tính chất và tâm trạng của con người trong hai bức tranh này. Bức tranh mùa xuân đầu tiên rộn ràng vui tươi và tràn đầy sức sống. Sự ấm áp, sức sống ấy không chỉ đến từ cảnh vật mà còn đến từ cảnh sinh hoạt của con người. Còn bức tranh cuối lại mang màu sắc ảm đạm hơn. Cái nhìn ở bức tranh đầu có vẻ bao quát hướng lên trên còn bức tranh thứ hai cái nhìn thu hẹp tầm mắt không được mở rộng chỉ hướng về những vật nhỏ bé xung quanh. 

Sự khác biệt ấy có thể đến từ thời gian vận động của bức tranh xuân. Vì là đầu ngày nên cảnh vật tràn đầy nhựa sống nhưng đến chiều tàn thì mọi thứ dần dần chìm vào trạng thái mệt mỏi, chậm chạp. Và có lẽ còn vì sự xuất hiện của con người, Con người ở bức tranh đầu là con người trong tâm thế đi “lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” nên vui tươi hơn. Còn con người trong bức tranh cuối là con người trở về sau ngày vui có phần mệt mỏi. Tất cả hòa kết lại tạo nên một không gian một cảm xúc đặc biệt.

Và một điều đặc biệt ở hai bức tranh xuân này không chỉ đơn giản là tả cảnh mà đó dường như còn là một sự dự báo về số phận của cuộc đời Kiều. Đời Kiều nếu đó giờ là một cuộc sống yên bình như mặt hồ phẳng lặng kia, như bức tranh xuân đầu ngày đầy thanh sắc khiến ai cũng đều ngưỡng mộ thì sau này cuộc đời Kiều sẽ rẽ ngang sang một con đường khác. Bức tranh thứ hai vẫn là những đường nét thanh tao nhưng đượm buồn. Đây cũng là dự báo trước cho cuộc đời Kiều sau này sẽ là một bản nhạc mà chỉ toàn nốt trầm buồn. Bởi sau khi ra về đó là lúc Kiều gặp nấm mộ ven đường của Đạm Tiên.

“Sè sè nắm đất bên đường

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”

Kiều đồng cảm cho số phận hồng nhan bạc phận của Đạm Tiên mà nàng nào có biết rằng nàng và Đạm Tiên lại chính là những người cùng hội cùng thuyền. Rồi gia biến sẽ ập đến cướp mất đi ánh sáng cuộc đời của người con gái đa sầu đa cảm này. Sau đó cũng trong buổi chiều tàn hôm đó, nàng còn được gặp tình yêu của đời mình – Kim Trọng. Gặp nhau nhưng rồi sẽ để lỡ mất nhau. Nên bức tranh xuân ấy còn là một lời tiên tri cho cuộc đời Kiều, mà chính Kiều dường như cũng đã dự cảm được cho số phận của mình. Đó chính là cái nét buồn man mác, nỗi u hoài đầy tâm trạng mà Kiều đã cảm nhận.

Đánh giá tác phẩm khi cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân

Nguyễn Du đã vận dụng thành công bút pháp tả cảnh. Chỉ với những nét phác họa ông đã tạo ra một bức tranh phong cảnh thật đẹp. Và cái tài của Nguyễn Du không chỉ dừng lại ở đó. Mà đó là còn bức tranh tâm trạng còn là lời dự báo của Nguyễn Du. Những hình ảnh ước lệ kết hợp độc đáo với những từ láy thuần Việt đã diễn tả thành công điều đó, tạo ra một bức tranh đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng. Và thành công còn đến từ việc sử dụng thể thơ lục bát dân tộc. Có thể nói Nguyễn Du đã đến xuất hiện trong văn học như một chiếc cầu nối giữa văn học bác học và văn học bình dân.

Gợi ý kết đề cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân

Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Kiều cũng như tìm hiểu và cảm nhận 6 câu thơ cuối bài Cảnh ngày xuân, ta cảm nhận được cảnh vật cũng chính là người… Chỉ với sáu câu thơ ngắn ngủi cô đọng nhưng đã gợi biết bao suy nghĩ. Nếu không được đặt đoạn trích, ta không thể biết được đây là bức tranh mùa xuân. Sáu câu thơ không có chữ “buồn” nhưng len lỏi khắp bài thơ vẫn là một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng miên man và day dứt không thoát ra được. Có thể nói đây là bức tranh nhẹ nhàng trước khi số phận nàng rẽ sang bi kịch tình yêu. Dù buồn nhưng nó vẫn dịu dàng, thanh tao không dằn vặt đau đớn mà chỉ đủ làm gợn lên những con sóng lòng cho người đọc.

Xem thêm:

Please follow and like us:
error
 
Tagged:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *