phân tích bài thơ hạt gạo làng ta của trần đăng khoa

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa để thấy sự trân trọng ngợi ca đầy tự hào của nhà thơ về những “hạt vàng” lấp lánh của quê hương xứ sở. Bài thơ nhỏ nhắn với những hình ảnh đẹp, dung dị và gần gũi đã gợi về những kí ức của tuổi thơ thật đẹp mà đầy xúc động. Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta sẽ thấy tình yêu quê hương đất nước đều bắt nguồn từ những điều bình dị và thân thương… Với nội dung bài viết dưới đây, DINHNGHIA.VN sẽ giúp bạn có những ý văn hay khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta. 

Mở bài: Trần Đăng Khoa được biết đến là một nhà thơ thần đồng với vô số những sáng tác đặc sắc viết về quê hương, đất nước, con người với giọng điệu trong trẻo, hồn nhiên. Trong số những tác phẩm của nhà thơ, có lẽ “Hạt gạo làng ta” chính là bài thơ để lại nhiều những ấn tượng trong lòng độc giả. Bài thơ đã gợi lên tình yêu quê hương, đất nước, con người từ những hình ảnh rất đỗi bình dị và thân thương của làng quê Việt Nam.

Sơ nét về tác giả và tác phẩm

Để tìm hiểu về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm cũng như phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, trước hết bạn cần nắm được những nét cơ bản về tác giả cùng tác phẩm. 

Giới thiệu nhà thơ Trần Đăng Khoa 

Trần Đăng Khoa sinh năm 1958, quê của ông là làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Từ thuở còn nhỏ, ông đã được nhiều người biết đến với tài năng sáng tác thơ thiên bẩm. Khi chỉ là một cậu bé 8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có tác phẩm được đăng báo và 2 năm sau đó, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của ông đã được xuất bản bởi Nhà xuất bản Kim Đồng. 

Trần Đăng Khoa từng có một khoảng thời gian phục vụ trong quân ngũ và sau khi đất nước được thống nhất, ông có điều kiện tập trung cho việc học tập. Ông từng theo học tại Trường Viết văn Nguyễn Du và với sự nhạy bén trong tiếp thu kiến thức, ông đã được cử sang Nga du học và khi trở về, ông đầu quân cho Tạp chí Văn nghệ quân đội.

Trần Đăng Khoa là tác giả đảm nhiệm khá nhiều những chức vụ quan trọng trong các tổ chức về văn chương, truyền thông, báo chí, chẳng hạn như: Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và gần đây còn được mời làm giám khảo, có quyền cầm cân nảy mực cho cuộc thi Viết thư quốc tế UPU. Những năm sau này, nhà thơ đang giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà thơ đã cho ra đời những tác phẩm nổi bật như: “Từ góc sân nhà em”; “Góc sân và khoảng trời”; “Trường ca Trừng phạt”; “Trường ca Giông bão” hay “Đảo chìm”… Với rất nhiều những sáng tác kể trên, nhà thơ đã vinh dự nhận được giải thưởng của báo Thiếu niên Tiền phong, báo Văn nghệ và đặc biệt là vào năm 2001, nhà thơ được vinh danh với Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tìm hiểu bài thơ Hạt gạo làng ta

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, ta thấy tác phẩm này được trích từ tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và được viết vào năm 1969 khi đất nước ta đang diễn ra cuộc kháng chiến chống Mĩ khốc liệt. Ở thời điểm này, nhà thơ mới chỉ là một cậu bé 11 tuổi nhưng lại có những suy nghĩ rất trưởng thành và chu đáo.

phân tích bài thơ hạt gạo làng ta của trần đăng khoa
Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa 

Tìm hiểu nguồn gốc của “hạt vàng”, những gian khổ đắng cay để tạo ra hạt gạo, hạt gạo trong những năm tháng kháng chiến gian lao cùng với ý nghĩa và giá trị của hạt gạo là những nội dung chính cần tìm hiểu khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta. 

Nguồn gốc dân dã của hạt gạo làng ta 

Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã thể hiện giá trị của gạo để thể hiện giá trị của hạt gạo:

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay.”

Việt Nam ta vốn là đất nước nông nghiệp với hình ảnh quen thuộc của ruộng đồng, thôn xóm, hạt gạo … Hạt gạo trắng sữa đã được xem như là hạt ngọc quý giá trời cho với vị phù sa nồng nàn của con sông Kinh Thầy thân thuộc, hương thơm thanh mát của hồ sen và xuất hiện trong cả những lời mẹ hát ru con với sự “ngọt bùi đắng cay” da diết. 

Chính những hạt lúa nhỏ bé, trắng tinh khôi ấy chính là thứ mang lại nguồn lương thực và cả giá trị tinh thần vô cùng lớn lao dành cho mọi người. Dường như, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã miêu tả vẻ đẹp của những hạt gạo bằng những hình ảnh thân thuộc, gắn bó với nhân dân nhưng lại là những gì đẹp đẽ nhất và tinh túy nhất.

Những đắng cay gian khổ để có được hạt gạo

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc nhận thấy trước khi thành hình và có thể xuất hiện với những vẻ đẹp tinh túy như cách mà Trần Đăng Khoa miêu tả, có được hạt gạo là cả một quá trình con người phải trải qua rất nhiều những khó khăn và gian khổ:

“Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy”

Qua những dòng viết của nhà thơ, ta thấy hiện lên biết bao nhiêu những trở ngại làm ảnh hưởng đến việc canh tác, cấy cày. Trở ngại ấy phần lớn đến từ sự khắc nghiệt của thiên nhiên, khí hậu. 

Chắc hẳn ta vẫn nhớ một bài ca dao rất đỗi quen thuộc của ông cha: “Ai ơi bưng bát cơm đầy”“Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Cái “đắng cay” phải chăng chính là nỗi cực nhọc của người nông dân khi phải đối mặt với những trở ngại của thiên nhiên. Đó là bão giông khi tháng bảy về, là mưa tuôn khi tháng ba đến và trời nắng như cháy da bỏng thịt của những trưa tháng sáu. Những biến động đó của thời tiết là những thách thức rất lớn đối với cây lúa vốn là loại thân mềm lại rỗng ở phía bên trong. Thế nhưng những thử thách ấy dù có lớn đến như thế nào thì cũng không thể làm khó được con người. 

Không đổ mồ hôi rơi nước mắt, mà người mẹ trong bài thơ cũng như rất nhiều những người nông dân khác đều phải trải qua rất nhiều những khó nhọc chỉ mong có thể lấy công sức ấy đổi lấy những hạt lúa căng tròn và chén cơm mát ngọt. Điều đó khiến cho ta có thể cảm nhận được những phẩm chất lao động đáng quý của người nông dân Việt Nam. Dù cho bão táp, mưa dầm, nắng rọi khiến cho “nước như ai nấu”, họ vẫn không quản khó nhọc, vẫn cần cù, siêng năng làm lụng chỉ để mong có một mùa thu hoạch thuận lợi, để cuộc sống được đủ đầy hơn, ấm no hơn…

Hạt gạo làng ta trong những năm tháng chiến tranh 

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta sẽ thấy việc bảo vệ hạt gạo trong chiến tranh với ý chí kiên cường của nhân dân đã cho thấy vai trò và ý nghĩa lớn lao của “hạt ngọc” làng ta. Gian khó mà người nông dân đối mặt trong sản xuất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà có những thứ còn khủng khiếp, nguy hiểm hơn nữa, đó chính là bom đạn trong chiến tranh:

 “Những năm bom Mĩ

Trút lên mái nhà

Những năm khẩu súng

Theo người đi xa

Những năm băng đạn

Vàng như lúa đồng”

Những câu thơ trên đã tái hiện ra khung cảnh đất nước trong những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra vô cùng khốc liệt. Để tàn phá đất nước ta, chúng không ngại đổ xuống đất ta vô vàn những trận mưa bom, bão đạn với sức hủy diệt ghê gớm. Trước hoàn cảnh đó, bao lớp thanh niên đã đi theo tiếng gọi của tình yêu tổ quốc để xung phong vào trận mạc làm nhiệm vụ chống lại quân thù, bảo vệ nền hòa bình cho đất nước. Đó là nhiệm vụ rất đỗi lớn lao. 

Lúc này, những người ở lại đảm nhiệm một vai trò cũng lớn lao không kém, là một hậu phương vững chắc bằng cách tăng gia sản xuất để có thể làm ra lúa gạo cung ứng cho bộ đội ta. Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc cũng thấy quá trình làm ra hạt gạo đã không hề dễ dàng vì sự xuất hiện của những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như đã nói, nhưng những người nông dân đã vượt qua rất xuất sắc. 

Ấy vậy mà bao nhiêu thành quả lao động sắp được gặt hái thì lại đứng trước nguy cơ bị hủy hoại không thương tiếc của bom đạn kẻ thù. Hình ảnh băng đạn của giặc “vàng như lúa đồng” đã cho thấy sức tàn phá vô cùng của chiến tranh. Vậy là người nông dân phải ra sức bảo vệ lấy chúng để rồi vẫn dành cho đời, nhất là những anh bộ đội chiến sĩ những thành quả ngọt ngào:

“Bát cơm mùa gặt

Thơm hào giao thông”

Hoàn cảnh của chiến tranh tuy có nghiệt ngã, khốc liệt nhưng lại là dịp để làm nổi bật lên ở người nông dân ý chí, lòng quyết tâm, sự can trường và tinh thần sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, thử thách. Dù có khi sự nguy hiểm đe dọa đến sinh mạng con người nhưng họ vẫn không hề lùi bước để có được “bát cơm mùa gặt”“thơm hào giao thông”

Như vậy, họ thật sự đã trở thành tấm gương, là hậu phương vững vàng và đồng thời cũng là động lực để cho những người chiến sĩ nơi chiến trường có thêm lí do để quyết tâm chiến đấu và mang về thắng lợi. Và quả thật, cuộc kháng chiến chống Mĩ của ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác để rồi cuối cùng cả hai miền Nam – Bắc được vui niềm vui thống nhất… Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta sẽ nhận ra thành quả đó dĩ nhiên được tạo nên không chỉ từ một cá thể, một tổ chức mà là sự hợp sức và đồng lòng của cả đất nước, dân tộc.

Sự góp sức của thanh thiếu niên vào hạt gạo và giá trị vô giá 

Như đã nói, để làm nên sự thắng lợi thì cần đến sự hợp lực của đông đảo mọi người, với công tác sản xuất cấy cày ở địa phương, không chỉ có người lớn mà trẻ em cũng có thể tham gia như một sự đóng góp cho công tác chung của đất nước:

“Hạt gạo làng ta

Có công các bạn

Sớm nào chống hạn

Vục mẻ miệng gàu

Trưa nào bắt sâu

Lúa cao rát mặt

Chiều nào gánh phân

Quang trành quét đất”

Hình ảnh những bạn nhỏ xuất hiện tạo nên một không khí mới cho đoạn thơ dù ở đoạn thơ trước đó tác giả thể hiện sự căng thẳng, hiểm nguy của chiến trận. Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc nhận thấy dù còn ở tuổi nhỏ nhưng những đứa trẻ đã biết phụ giúp cho gia đình những công việc tuy nhỏ nhưng không kém phần quan trọng. Điều này đã giúp những cánh đồng có thể phát triển tốt nhất: nào là tưới nước để lúa không bị khô cằn vì nắng hạn, nào là bắt sâu ban trưa để chúng không thể phá hoại cây và cả gánh phân chăm bón để cây lúa có chất dinh dưỡng và phát triển được tốt nhất. 

Những bạn nhỏ ấy đã làm việc với tinh thần hăng say không khác gì người lớn. Điều đó khiến ta như cũng thấy thêm hân hoan, tự hào vì công cuộc xây dựng đất nước có cả sự góp sức của sức trẻ. Như vậy, có thể thấy lứa tuổi nào cũng có thể đóng góp một phần công sức của mình vào sự nghiệp chung của dân tộc, dù nhỏ thôi nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành dành cho quê hương xứ sở. Riêng những bạn nhỏ trong bài thơ, chính nhờ vào bàn tay góp sức mà hạt gạo trắng thơm được gửi đi đến khắp muôn nơi và mang đến biết bao nhiêu niềm vui cho cả người cho và nhận:

“Hạt gạo làng ta

Gửi ra tiền tuyến

Gửi về phương xa

Em vui em hát

Hạt vàng làng ta”

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta dễ dàng nhận ra tác giả nhắc nhiều đến từ “hạt gạo”, thế nhưng trong đoạn thơ này, tác giả đã gọi hạt gạo là “hạt vàng”. Nhà thơ dường như muốn thể hiện sự trân trọng đối với giá trị vô cùng quý giá của hạt gạo ấy. Nó không chỉ quý vì có thể giúp con người ấm lòng no bụng mà còn quý vì chứa đựng biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và sự cố gắng của những người làm ra…

Đánh giá về tác phẩm khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta

Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, người đọc dễ dàng nhận thấy tác phẩm được viết theo thể thơ bốn chữ ngắn gọn, nhịp thơ uyển chuyển và cùng các hình ảnh đặc sắc của làng quê Việt Nam, nhất là hình ảnh của hạt gạo trắng ngần, thơm mát. Như vậy, bài thơ đã toát lên những nội dung giàu giá trị. Đó là tình cảm trân trọng của nhà thơ đối với hạt gạo được vun trồng bởi bàn tay khéo léo, chăm chỉ của người nông dân. Bên cạnh đó, nhà thơ còn bày tỏ sự mến phục với những người lao động miệt mài quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời để dâng tặng đời món quà quý báu của đồng nội.

Kết bài: Có thể thấy bài thơ “Hạt gạo làng ta” dù được sáng tác bởi một Trần Đăng Khoa nhỏ tuổi nhưng lại thể hiện những suy nghĩ của một người chín chắn, trưởng thành. Sau những vần thơ ngắn gọn ấy, ta cảm nhận được sự quý giá của hạt gạo nói riêng và thành quả của người lao động nói chung. Từ sự cảm nhận đó, ắt hẳn nhà thơ cũng mong muốn mỗi người hãy biết góp sức xây dựng và đồng thời phải biết trân trọng những thành quả ngọt ngào được làm ra.

Dàn ý phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa 

Để giúp bạn nắm được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, dưới đây hãy cùng DINHNGHIA.VN lập dàn ý phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Mở bài phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa 

  • Giới thiệu nét chính về tác giả Trần Đăng Khoa.
  • Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Hạt gạo làng ta.
  • Dẫn dắt vấn đề: phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Thân bài phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa 

  • Nguồn gốc dân dã và giá trị của hạt gạo làng ta.
  • Những gian khổ khó khăn để có được hạt gạo làng ta.
  • Ý chí vượt khó vươn lên trong chiến tranh gian khổ của nhân dân để có được hạt gạo.
  • Sự đóng góp của thiếu nhi cùng với niềm vui của con người trong vụ mùa bội thu.

Kết bài phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa 

  • Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
  • Bày tỏ những cảm nhận riêng của bản thân trong quá trình phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta.

Ý thơ Hạt gạo làng ta đọng lại trong trái tim người đọc bởi sự trân quý hạt gạo – hạt ngọc của quê hương xứ sở. Từ đó, nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng gửi gắm sự biết ơn đến những dân lao động hai sương một nắng để giúp chúng ta biết trân trọng hơn ý nghĩa của sự vất vả chân lấm tay bùn để tạo ra hạt vàng. Hạt gạo làng ta không những là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm tinh thần vô giá. Đến nay, tứ thơ của Trần Đăng Khoa đã được phổ nhạc thành những tiếng hát ngân nga đầy sâu sắc… 

Trên đây là những phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, hy vọng đã mang đến cho bạn những kiến thức hữu ích. Mong rằng bạn đã có được những ý văn hay trong quá trình tìm hiểu và phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta. Chúc bạn luôn học tập tốt!. 

Please follow and like us:
 
Tagged:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *